Lễ nhớ các Chân Phước Hiến Sĩ tử đạo Tây Ban Nha 28/11

 

Thời gian ba năm từ 1936 đến năm 1939 là khoảng thời gian đẫm máu các vị tử đạo của Giáo Hội tại Tây Ban Nha. Trong cuộc đàn áp tôn giáo ấy, hàng ngàn người đã trải qua cái chết đau đớn do bạo lực gây ra. Họ bị tra tấn và xử bắn chỉ vì họ là những người theo một niềm tin tôn giáo. Hoặc bởi vì họ khoác trên mình một chiếc áo tu sĩ hoặc cử hành hoạt động tôn giáo. Họ bị giết chỉ vì họ là linh mục hay tu sĩ đang thi hành sứ vụ mục vụ trong các giáo xứ, tại các trường học và bệnh viện. Họ bị bách hại chỉ vì họ là những tín hữu Công giáo có niềm tin sâu sắc vào Đức Giê su Ki tô.

Linh mục Antonio Montero đồng thời là một nhà báo, hiện nay là Tổng giám mục đã nghỉ hưu, trong luận án tiến sĩ của ngài về đề tài : “Lịch sử cuộc bức hại tôn giáo ở Tây Ban Nha (Historia de la persecución religiosa en España) đã trình bày một thống kê về số nạn nhân bị bách hại: Có 6.932 giáo sĩ và tu sĩ hy sinh trong cuộc đàn áp này: Trong đó có 12 Giám mục, 4.172 Linh mục triều, 2.365 Tu sĩ nam và 283 nữ tu. Đó là chưa kể đến vô số các tín hữu Công giáo không thể thống kê được đã bị sát hại bởi vì họ không chịu từ bỏ niềm tin của mình.

Đấy là điều chính đáng để có thể nói đến việc tử vì đạo trong sự hợp lý và đúng đắn về ý nghĩa của việc Tử đạo. Ngay vào thời điểm ấy, các giám mục Tây Ban Nha và chính Đức Giáo Hoàng Piô XI cũng đã nói đến việc:  Làm thế nào các tín hữu – những người đã chứng kiến và thấu hiểu sự kiện, những tín hữu đang mong chờ Nước Trời có thể nói lại những sự kiện ấy một cách công khai.

Câu chuyện về các cuộc tử đạo tại Pozuelo

Bầu không khí hận thù và cuồng tín của những kẻ bài trừ tôn giáo bao trùm khắp nơi. Bầu không khí ấy cũng tồn tại một cách rõ ràng tại Pozuelo de Alarcón (Madrid). Đây là nơi học tập và làm việc của 22 Hiến Sĩ Tử đạo. Họ là các linh mục, tu huynh, anh em Học viện của Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm.

Cộng đoàn truyền giáo Dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm đã được thành lập trong khu phố Estación của Pozuelo vào năm 1929. Họ phục vụ như tuyên úy trong ba cộng đoàn nữ tu. Họ cũng tham gia hoạt động mục vụ trong các giáo xứ xung quanh vùng với các công việc như  giải tội và rao giảng Lời Chúa, nhất là trong Mùa Chay và Tuần Thánh. Các anh em Hiến sĩ trong Học Viện cũng phụ trách dạy giáo lý trong bốn giáo xứ lân cận và tham gia hát trong các ca đoàn khi cử hành phụng vụ.

Các hoạt động tôn giáo này khiến cho các Ủy Ban Cách Mạng trong khu phố Estación bắt đầu thấy lo lắng. Họ gọi các Hiến sĩ là đã “friars”. Họ rất lo lắng rằng các " friars "  là thế lực đứng đằng sau hoạt động tôn giáo ở Pozuelo và khu vực xung quanh.

Những người cách mạng điên tiết lên khi thấy cảnh những thầy tu đi dọc các nẻo đường trong bộ áo Dòng với cây Thánh giá giắt ngang .

Những hoạt động tôn giáo của các Hiến sĩ Học Viện Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm  ngày càng trở nên không thể chịu đựng hơn đối với các nhóm cách mạng ở đây.

Các Hiến sĩ không cho phép mình bị đe dọa. Các Hiến sĩ đã đơn giản đối diện với lực lượng Cách mạng bằng thái độ thận trọng và bình tĩnh. Các Hiến sĩ không có bất kì phản ứng tiêu cực nào đối với các hành vi khiêu khích của chính quyền cách mạng. Lẽ tất nhiên, không có bất kì một hoạt động tôn giáo nào mang tính chính trị. Hoàn toàn không! Mặc dù vậy, các Hiến sĩ vẫn duy trì chương trình của họ về thiêng liêng và trí thức. Họ tiếp tục thi hành các hoạt động mục vụ khác nhau như là một phần trong sứ vụ tư tế và truyền giáo của các anh em Hiến sĩ tại Học viện.

Mặc dù đã tiên liệu trước các hành vi gây hấn của chính quyền Cách mạng có thể làm, nhưng Bề Trên không thể tưởng tượng rằng mọi thứ sẽ đi xa như vậy. Thậm chí, trong tâm trí các ngài chưa bao giờ nghĩ rằng các ngài có thể là nạn nhân của những kẻ chống lại những người tin vào Thiên Chúa và chống lại những sứ giả của Chúa Giêsu Kitô.

Ngày 20 tháng bảy năm 1936, những thanh niên theo Cách mạng đã xuống đường. Một lần nữa, họ đốt phá nhà thờ và tu viện, đặc biệt là ở Madrid.

Mặt khác, các lực lượng dân quân của Pozuelo tấn công vào nhà thờ trong khu phố Estación. Những người này đã ném lễ phục và tượng ảnh ra khắp các đường phố. Họ biến nhà thờ thành nơi chè chén say sưa và báng bổ thần thánh. Sau đó, họ đốt nhà thờ và tiếp tục làm những điều tương tự ở giáo xứ khác trong vùng.

Vào khoảng 3 giờ chiều ngày 22 tháng 7, một lực lượng dân quân hùng hậu được trang bị vũ trang với súng ngắn và súng lục tấn công vào Học Viện Dòng Hiến sĩ Đức Mẹ Vô nhiễm. Đầu tiên, họ quây tròn các Hiến sĩ lại thành một cụm. Có khoảng 38 Hiến sĩ tại nhà lúc này. Họ nhốt các ngài vào một căn phòng nhỏ. Các ngài bị canh gác cẩn mật và bị đe dọa bằng các khẩu súng. Đó là một khoảnh khắc khủng khiếp và căng thẳng tột độ bởi vì các ngài nghĩ rằng đã đến thời điểm chết của mình. Các ngài không biết điều gì sẽ xảy ra tiếp theo trước những lời lẽ thô tục và sự thù hằn của lực lượng dân quân.

Tiếp theo, các lực lượng dân quân cầm súng đi lục soát khắp ngôi nhà. Tất cả những gì mà họ tìm được là các tranh ảnh tượng, thánh giá, tràng hạt và khăn trải bàn thờ, lễ phục... Họ ném tất cả những đó vào cầu thang ở tầng thấp hơn để họ có thể đốt cháy chúng trên đường phố.

Các Hiến sĩ trở thành tù nhân ngay tại nhà riêng của mình. Các ngài bị giam trong phòng ăn nơi mà các cửa sổ đã bị khóa chặt. Đây chính là nhà tù đầu tiên của các ngài.

Vào khoảng ba giờ sáng ngày 24, cuộc hành quyết đầu tiên được tiến hành. Bảy Hiến sĩ bị kết án mà không có bất kì cuộc điều tra, không có một bản cáo trạng, không xét xử  và cũng không có sự biện hộ. Những người đầu tiên bị kết án là:

 Juan Antonio Perez Mayo, linh mục và giáo sư, 29 tuổi.

Manuel Gutierrez Martin, anh em Học Viện , Phó tế, 23 tuổi

Cecilio VEGA Dominguez, anh em Học viện và Phó tế, 23 tuổi.

COTILLO Juan Pedro Fernandez, anh em Học viện, 22 tuổi.

Pascual ALÁEZ Medina, anh em Học viện, 19 tuổi

Francisco POLVORINOS Gomez, anh em Học viện, 26 tuổi.

Justo Gonzalez Lorente, anh em Học viện, 21 tuổi.

Không có bất kỳ lời giải thích nào, các ngài bị tống vào hai chiếc xe và đưa đến nơi tử đạo của các ngài. Các Hiến sĩ còn lại thì chờ đợi, cầu nguyện và chuẩn bị đón nhận cái chết của mình.

Một người nào đó, có lẽ là thị trưởng Pozuelo, một người am hiểu về Madrid đã đe dọa những Hiến sĩ còn lại. Cũng vào ngày 24, một chiếc xe tải của các cảnh sát chở các ngài đến Tổng Cục An ninh để làm một số thủ tục. Ngày hôm sau, sau khi điền vào một số giấy tờ, các ngài đã được trả tự do một cách bất ngờ. Các ngài tìm nơi trú ẩn trong nhà của mình. Các ngài đặt mình vào sự nguy hiểm khi tiếp tục đi khắp các khu vực để khuyến khích những tín hữu và mang lại cho họ sự hiệp thông. Vào tháng Mười, các ngài bị truy đuổi một lần nữa. Lần này, các ngài bị bắt và bị giam cầm trong một nhà tù.

Ở đó, các ngài đã phải chịu đựng một cái chết từ từ : đói, lạnh, sợ hãi và các mối đe dọa. Một số lời khai của những người sống sót cho thấy các ngài đã chấp nhận chịu đựng một cách anh hùng trước những tình huống khó khăn. Hiện diện trong các ngài là một tinh thần bác ái và một bầu không khí thinh lặng cầu nguyện.

Tháng mười một là thời điểm nhiều người trong các ngài đi đến đích điểm cuối cùng của đồi Can-vê. Ngày thứ 7, hai trong số đó đã bị giết :

José VEGA RIAÑO, linh mục huấn luyện, 32 tuổi

Và anh em Học viện Serviliano RIAÑO Herrero, 30 tuổi. Ngài chính là người khi bị đưa ra trước mặt người hành hình đã đến bên cạnh cha M. Martin để xin được lãnh nhận Bí tích Hòa giải.

Hai mươi ngày sau đó lần lượt 13 Hiến sĩ khác bị hành quyết. Các thủ tục của tất cả mọi người là như nhau . Không có lời buộc tội chính thức, không có án, không biện hộ, không không giải thích, mà chỉ gọi tên của các ngài trên các loa phóng thanh.

Francisco Esteban LACAL, Cha Giám tỉnh, 48 tuổi.

Vicente Blanco GUADILLA, Bề trên Học Viện, 54 tuổi .

Gregorio Escobar Garcia, anh em Học viện mới được thụ phong linh mục (06 tháng sáu 1936), 24 tuổi.

Juan José Rodríguez Caballero, anh em Học viện, Phó tế, 24 tuổi.

Publio Rodriguez MOSLARES, anh em Học viện, 24 tuổi

Justo GIL Pardo, anh em Học viện, Phó tế, 26 tuổi.

BOCOS Ángel Francisco Hernandez, Tu huynh, tuổi 54.

Marcelino Sanchez Fernandez, Tu huynh, 26 tuổi.

José Guerra Andres, anh em Học viện, 22 tuổi.

Daniel Gomez Lucas, anh em Học viện, 20 tuổi.

Justo Gonzalez Fernandez, anh em Học viện, 18 tuổi.

Clemente Rodríguez TEJERINA, anh em Học viện, 18 tuổi.

Eleuterio PRADO Villarroel, Tu huynh 21 tuổi.

Chúng ta biết rằng vào ngày 28 tháng 11 năm 1936, các Hiến sĩ đã được đưa từ nhà Dòng đến thị trấn Paracuellos de Jarama và bị hành quyết tại đó. Một Hiến sĩ trong xe chiếc tải khác - người bị buộc khuỷu tay mình vào khuỷu tay Cha Delfin MONJE, cả hai đều được trả tự do một cách khó hiểu ngay tại gần nơi hành quyết đã nói với cha Monje : " Thưa Cha, xin cha ban Bí tích Hòa giải cho con và xin Cha cầu nguyện cho con được lòng  ăn năn vì thời giờ cuối cùng của con đã gần đến." Vị Hiến sĩ ấy, 18 năm sau, than thở: " Thật là tồi tệ! Tôi không được chết sau đó. Tôi không bao giờ được trở lại để chuẩn bị đối mặt với cái chết một cách tốt đẹp như thế nữa! "

Không có bất kỳ thông tin trực tiếp nào từ các  nhân chứng về thời điểm tử đạo của 13 Tôi Tớ Chúa. Chỉ có phu đào huyệt đã tuyên bố: "Tôi hoàn toàn tin rằng vào ngày 28 tháng 11, 1936, một linh mục hay tu sĩ đã yêu cầu các lực lượng dân quân nếu ông có thể nói lời tạm biệt với tất cả các bạn đồng hành của mình và ban Bí tích Giải tội cho họ như những gì ông được phép làm. Một khi ông đã hoàn tất, ông nói lớn tiếng những lời này: "Chúng tôi biết rằng các bạn đang giết chết chúng tôi bởi vì chúng tôi là người Công giáo và là các Tu sĩ. Mà chúng tôi thực sự là thế. Xuất phát từ tận sâu thẳm trái tim chúng tôi, tôi và những người bạn đồng hành của tôi tha thứ cho các bạn. Vạn tuế Đức Giê-su Ki-tô Vua.”.

Vị tân linh mục mới được thụ phong, Gregorio Escobar, đã viết cho gia đình của mình: " Con đã luôn luôn xúc động sâu sắc bởi những câu chuyện của các vị tử đạo trong suốt chiều dài lịch sử Giáo hội. Và trong khi đọc chúng, con cảm thấy một khát khao thầm kín để có số phận tương tự như họ. Đó sẽ là điều tốt nhất của chức linh mục, điều mà  tất cả Kitô hữu có thể mong muốn. Mỗi người chúng ta dâng hiến cho Thiên Chúa thân xác và máu huyết của chúng ta như là của lễ toàn thiêu trong đức tin. Thật tuyệt vời đối với một cái chết vì đạo”.

Đó là điều hiển nhiên khi  kết quả  của quá trình điều tra cấp giáo phận nhận định rằng: tất cả các ngài đã chết để tuyên xưng đức tin và tha thứ cho những kẻ hành hạ các ngài. Và rằng, mặc dù bị tra tấn tâm lý trong thời gian bị giam cầm, không ai trong số các ngài chối bỏ hay đánh mất đức tin. Các ngài cũng không than thở. Thực tế, các ngài đã chấp nhận đến cùng, ơn gọi của một tu sĩ.

Vì lý do đó, các thành viên trong gia đình, các anh em Hiến sĩ, và những Kitô hữu biết về sự trung thành với Chúa của các ngài cho đến chết đã nhất trí xem các ngài là các vị tử đạo ngay từ đầu. Mọi người cầu nguyện với Thiên Chúa để Giáo Hội sẽ công nhận các ngài và trình bày cho tất cả chúng ta về sự  trung thành của các ngài  như các vị tử đạo Kitô giáo đích thực.

Cuộc điều tra phong thánh giai đoạn giáo phận đã kết thúc tại Madrid vào ngày 11 tháng 1 năm 2000. Tại Rome, chờ đợi cho một quyết định của Tòa Thánh để kể thêm 22 vị Hiến sĩ Tôi tớ Chúa vào Danh mục các Thánh Tử Đạo.

22 Hiến sĩ Tử đạo được phong chân phước vào ngày 17 tháng 12 năm 2011 tại nhà thờ chính tòa Nuestra Senore de la Almudene ở Madrid, Tây Ban Nha.

Khai Tâm, OMI chuyển ngữ

Nguồn: Oblate Postulation, Rome

 

 

 

 

 

 

© 2016 by Donghiensi.Net. All rights reserved.